Một số quy định của pháp luật quốc tế và một số quốc gia về vấn đề quyền của người chưa thành niên phạm tội
Ảnh minh họa
Người chưa thành niên phạm tội là một hiện tượng, một thực tế tồn tại ở tất cả các quốc gia trên thế giới. Mỗi quốc gia đều giải quyết vấn đề người chưa thành niên phạm tội theo những mức độ, cách thức khác nhau tuỳ thuộc vào những điều kiện, tập quán, pháp luật của mỗi nước.

Một hoạt động mà các nước trên toàn cầu đang nỗ lực thực hiện là tìm mọi cách bảo đảm hệ thống tư pháp người chưa thành niên tuân thủ theo đúng luật quốc tế về quyền con người. Kể từ năm 1989, với tốc độ ngày càng cao, các nước trên thế giới đã và đang đưa những nguyên tắc quốc tế vào các luật và chính sách quốc gia. Đã có nhiều văn bản quốc tế về quyền con người của trẻ em, của người chưa thành niên ra đời trong hơn nửa thế kỷ qua. Đồng thời, việc tăng cường bảo vệ các quyền của trẻ em cũng là một khía cạnh quan trọng trong hoạt động của các cơ quan và chương trình của LHQ (Liên Hợp Quốc). Trong các văn bản quốc tế và các chương trình của LHQ về vấn đề trẻ em sử dụng đồng thời cả hai khái niệm trẻ em và người chưa thành niên. Điều 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em xác định rõ: "Trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn". Trong một số văn bản, khái niệm trẻ em được gọi là người chưa thành niên hoặc thanh, thiếu niên. Tuy nhiên, trong quan hệ với pháp luật và thực thi pháp luật, trẻ em thường được gọi là người chưa thành niên:

- Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của LHQ về việc áp dụng pháp luật đối với người chưa thành niên (còn gọi là Quy tắc Bắc Kinh), được Đại hội đồng LHQ thông qua ngày 29-11-1985 nêu rõ: "Người chưa thành niên là trẻ em hay người ít tuổi tuỳ theo từng hệ thống pháp luật có thể bị xét xử vì phạm pháp theo một phương thức khác với việc xét xử người lớn" (Quy tắc số 2.2 mục a).

- Quy tắc tối thiểu phổ biến của LHQ về bảo vệ người chưa thành niên bị tước quyền tự do thông qua ngày 14-12-1990 nêu cụ thể: "Người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi. Giới hạn tuổi dưới mức này cần phải được pháp luật xác định và không được tước quyền tự do của người chưa thành niên" (Quy tắc 2.1 mục a).

Như vậy, có thể thấy rằng, khi đưa ra khái niệm về trẻ em hay người chưa thành niên, trong pháp luật quốc tế không dựa vào đặc điểm tâm - sinh lý hay sự phát triển thể chất, tinh thần... mà trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua việc xác định độ tuổi . Kể cả khái niệm trẻ em và khái niệm người chưa thành niên đều giới hạn là dưới 18 tuổi, đồng thời đưa ra khả năng mở cho các quốc gia tuỳ điều kiện kinh tế - xã hội, văn hoá, truyền thống của mình có thể quy định độ tuổi đó sớm hơn. Nội dung các quy tắc trên có tính đến sự đa dạng và cơ cấu pháp luật của các quốc gia, phản ánh mục đích và tinh thần của tư pháp người chưa thành niên, đề ra những nguyên tắc mong muốn và thông lệ đối với việc quản lý những người chưa thành niên vi phạm pháp luật. Quy tắc Bắc Kinh chỉ ra những mục đích của việc áp dụng pháp luật với người chưa thành niên và đảm bảo rằng bất cứ sự xử lý nào đối với người chưa thành niên phạm tội phải luôn xem xét tới điều kiện hoàn cảnh của người chưa thành niên và mức độ của tội phạm. Trong quy tắc này, bao gồm những quy định cụ thể điều chỉnh nhiều giai đoạn khác nhau của việc áp dụng tư pháp với người chưa thành niên . Các quy định này nhấn mạnh rằng việc đưa các em vào cơ sở quản lý, giáo dục tập trung chỉ được coi là biện pháp cuối cùng, chỉ nên áp dụng trong một thời gian tối thiểu, cần thiết. Liên quan đến thủ tục xét xử quy tắc này cho rằng, một trẻ em bị quy là phạm tội được hưởng quyền xử lý đúng theo luật định và quyền được hưởng sự đối xử đặc biệt, kể cả sự cần thiết phải "tiến hành tố tụng trong một bầu không khí hiểu biết", tầm quan trọng về sự có mặt của cha mẹ, tôn trọng những điều riêng tư của các em trong tố tụng cũng như hồ sơ và yêu cầu phải có những người được đào tạo chuyên sâu tham gia tố tụng để giải quyết vụ án. Quy tắc của LHQ về bảo vệ người chưa thành niên bị tước quyền tự do quy định các nguyên tắc cụ thể áp dụng đối với tất cả các hình thức giam giữ ở bất cứ cơ sở giam giữ nào. Tách riêng những người chưa thành niên ra khỏi người lớn trong cùng các cơ sở giam giữ và phân loại các em là một yêu cầu cần thiết được nhắc đến trong quy tắc này. Đồng thời nhấn mạnh việc bảo vệ người chưa thành niên bị tước quyền tự do không chỉ xác định các quyền của họ mà còn quy định cách đối xử khi các em phạm tội. Sự tôn trọng các quyền của người chưa thành niên cũng là một bộ phận khăng khít của công tác quản lý, giáo dục người phạm tội là người chưa thành niên. Các quy định đặc biệt nhấn mạnh sự liên hệ giữa người chưa thành niên với gia đình, tôn trọng nhân phẩm của các em và quyền người chưa thành niên được đối xử công bằng.

Các quy tắc và nguyên tắc nêu trên có chứa đựng một điều khoản cho thấy rằng, các quy tắc và các nguyên tắc đó được thực hiện dựa trên những điều kiện kinh tế - xã hội và văn hoá hiện có của mỗi quốc gia. Các tiêu chuẩn nêu ra là rất linh hoạt, nếu được áp dụng một cách thiện chí theo cách thức phù hợp nhất với hoàn cảnh kinh tế - xã hội, văn hoá của từng quốc gia, chúng sẽ là một công cụ hữu hiệu giúp cải thiện cuộc sống của số lượng ngày càng tăng người chưa thành niên bị đẩy tới chỗ vi phạm pháp luật và chống lại xã hội.

Dựa trên những quy định của luật pháp quốc tế về người chưa thành niên, các quốc gia trên thế giới đã đưa ra các quy định về người chưa thành niên nói chung, người chưa thành niên phạm tội nói riêng, các chế tài xử lý người chưa thành niên phạm tội phù hợp với điều kiện kinh tế- văn hoá – xã hội, phong tục, tập quán, pháp luật của mỗi nước. Chẳng hạn như :

Ở Thái Lan, ngày 28-1-1952, Thái Lan đã thành lập Toà án người chưa thành niên trung ương. Mục đích của việc thành lập Toà án này là dành cho trẻ em và những người chưa thành niên dưới 18 tuổi một biện pháp xử lý đặc biệt khi họ vi phạm pháp luật hình sự. Tuy nhiên, thẩm quyền của Toà án người chưa thành niên còn được phép giải quyết một số trường hợp tranh chấp gia đình liên quan tới hạnh phúc và lợi ích của trẻ em và người chưa thành niên.

Theo Điều 72 BLHS Thái Lan, thì một đứa trẻ chưa đến 7 tuổi cũng bị áp dụng hình phạt vì những tội đã được pháp luật quy định. Trẻ em từ 7 đến 14 tuổi nếu phạm tội cũng bị xét xử và có thể chịu hình phạt tù nhưng Toà án sẽ quyết định biện pháp xử lý đặc biệt bằng cách đưa vào một trường cải tạo hoặc gửi trẻ em đó cho một người hay một cơ quan nào mà Toà án thấy có khả năng thích hợp với việc cải tạo, giáo dục trẻ em đó (Điều 74 BLHS Thái Lan). Người chưa thành niên từ 14 đến 17 tuổi có thể bị phạt và được hưởng hình phạt đặc biệt. Trong trường hợp ở độ tuổi này, trước khi xét xử, tuyên án, Toà án bao giờ cũng xem xét kỹ hoàn cảnh, nhân thân và môi trường của người đó (Điều 75 BLHS Thái Lan). Người chưa thành niên bị bắt phải được đưa ngay tới trại giam giữ trong vòng 24 giờ và trong vòng 30 ngày tạm giữ, công tố viên phải hoàn thành thủ tục và đưa ra xét xử tại Toà án người chưa thành niên (Điều 50 và 51 Luật tổ chức Toà án người chưa thành niên và gia đình 1991). Trong quá trình giam giữ người chưa thành niên vẫn được chăm sóc và bảo vệ tốt. Hội đồng xét xử người chưa thành niên phạm tội gồm 2 thẩm phán chuyên nghiệp, 2 hội thẩm nhân dân và bắt buộc một trong hai hội thẩm phải có 1 là nữ. Phiên toà xét xử người chưa thành niên phải được xử kín, trong đó phải có mặt người bào chữa, cha mẹ hoặc người giám hộ. Thủ tục tố tụng của Toà án người chưa thành niên cũng đòi hỏi phải có cán bộ chuyên sâu hơn như các nhà tâm lý, y tế, giám sát, công tác xã hội. Mục đích tố tụng với người chưa thành niên là tạo cho họ một cơ hội để sửa chữa, thay đổi hành vi và mong muốn sau cùng là giúp họ trở thành những công dân tốt cho xã hội chứ không nhằm vào mục đích xử phạt các em như xử phạt người lớn.

Ở Nhật Bản, có Luật người chưa thành niên, nhưng phân toà người chưa thành niên của Toà án gia đình giải quyết các vụ việc liên quan đến người dưới 20 tuổi. Mục đích của Luật người chưa thành niên là không trừng phạt những người chưa thành niên phạm tội mà "giúp đỡ cho họ phát triển tốt, tiến hành những biện pháp bảo vệ để thay đổi tính cách của người chưa thành niên phạm tội và tạo ra một môi trường giáo dục để điều chỉnh người chưa thành niên đã chót mắc phải sai lầm". Bộ luật tố tụng hình sự của Nhật Bản quy định việc điều tra thuộc chức năng của cảnh sát và cơ quan công tố. Nếu Toà án xét thấy cần có biện pháp chăm sóc, bảo vệ thì thẩm phán ra quyết định đưa bị can, bị cáo vào trại giam chờ ngày xét xử. Thời hạn tạm giam không quá 4 tuần. Trong thời gian 4 tuần, Toà án phải hoàn tất những thủ tục cần thiết để đưa ra xét xử. ở Nhật Bản không có thủ tục riêng cho việc truy tố và xét xử người chưa thành niên. Theo Luật người chưa thành niên, thì công tố viên không có quyền tham gia xét xử tại các Toà án gia đình. Tuy nhiên, thẩm phán có thể cho phép công tố viên tham dự và khi cần thiết có thể yêu cầu công tố viên tiến hành điều tra thêm.

Luật người chưa thành niên của Nhật Bản cho phép người chưa thành niên khi bị đưa ra xét xử tại Toà án gia đình được có một hoặc hai người đại diện. Người đại diện không phải là luật sư bào chữa như trong phiên toà xét xử người đã thành niên. Người đại diện này không nhất thiết phải là luật sư, có thể là giáo viên hoặc người làm công tác xã hội... Luật không quy định chi tiết các bước tiếp theo cần tiến hành như thế nào mà chỉ đưa ra chung chung rằng Toà án gia đình phải tiến hành xét xử trên cơ sở "chân tình, có lợi" cho người chưa thành niên và "cần có mọi cố gắng để bảo vệ cho được những thuộc tính cao đẹp nhất của người chưa thành niên và để cho người chưa thành niên có niềm tin" và việc xét xử cần tiến hành công khai.

Ở Hà Lan, lịch sử phát triển của chế tài áp dụng đối với người chưa thành niên trong Luật hình sự của Hà Lan đã góp phần tích cực vào việc hoàn thiện ngành luật hình sự của Hà Lan. Từ những yêu cầu thực tế của các cơ quan chức năng, cùng với những biến đổi của xã hội, việc nghiên cứu để tìm ra những chế tài thay thế là quan trọng và cần thiết. Khi người chưa thành niên phạm tội, người ta cân nhắc và áp dụng các chế tài thay thế, chỉ được phép tiến hành theo thủ tục tố tụng hình sự khi không còn cơ hội nào để có thể áp dụng chế tài thay thế. Trong vòng 10 năm qua, chế tài thay thế đã được áp dụng thường xuyên hơn đối với những vụ việc liên quan tới người chưa thành niên. Các chế tài thay thế áp dụng đối với người chưa thành niên không chỉ thay thế hình phạt tù mà còn thay thế cả những hình phạt truyền thống đang tồn tại như hình phạt tiền hay án treo. Có hai loại chế tài thay thế khác nhau được áp dụng với người chưa thành niên, đó là các dự án công tác (dịch vụ của cộng đồng đối với người chưa thành niên) và các dự án đào tạo.

Mục tiêu chung của các chế tài thay thế là tăng cường hệ thống giáo dục và hệ thống quản lý xét xử người chưa thành niên mà hệ thống này sẽ giúp cho các em hạn chế được tái phạm. Một mặt các chế tài thay thế hạn chế được việc áp dụng những chế tài truyền thống. Bởi lẽ, việc bỏ tù hay tống giam không đem lại sự thay đổi hành vi của các em theo hướng tốt nếu không muốn nói là có tác động ngược lại do sự tách biệt tạm thời môi trường tốt của gia đình, nhà trường và xã hội. Mặt khác, chế tài thay thế còn góp một phần tích cực vào hệ thống giáo dục cải tạo đối với người chưa thành niên bởi những nguyên tắc cụ thể đã được chú trọng tới trong quá trình giáo dục cải tạo của từng đối tượng vi phạm. Chính bản thân các em, về nguyên tắc phải chịu trách nhiệm cá nhân đối với những hành vi của mình và cũng chính các em phải thực hiện những nhiệm vụ cụ thể đem lại lợi ích không chỉ cho riêng mình mà còn mang lại lợi ích cho người khác. Các thủ tục hình sự chỉ được phép tiến hành áp dụng khi không còn cơ hội nào để có thể áp dụng chế tài thay thế. Các chế tài thay thế có thể áp dụng thay thế cho tất cả các loại tội phạm do người chưa thành niên gây ra... và có thể áp dụng với bất cứ đối tượng người chưa thành niên nào vi phạm (từ vi phạm lần đầu hay tái phạm cho đến tội phạm là nam hay nữ...).

Như vậy có thể thấy rằng, ở mỗi quốc gia, tuỳ thuộc vào sự phát triển kinh tế - xã hội, lịch sử lập pháp, truyền thống và các yếu tố về tâm - sinh lý của con người, cũng như về tình hình phạm tội và yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm ở người chưa thành niên mà có những quy định về độ tuổi, mức độ chịu TNHS, thủ tục, cách thức xử lý hành vi phạm tội... của người chưa thành niên khác nhau. Song không thể phủ nhận một điều, đó là mục đích xem xét, xử lý hành vi phạm tội của người chưa thành niên nhằm tạo điều kiện tốt nhất để các em sửa chữa sai lầm, phấn đấu trở thành người có đức, có tài giúp ích cho xã hội. Pháp luật của các nước đều hướng tới bảo vệ quyền con người của người chưa thành niên từ mọi góc độ.

ThS Trương Hồng Sơn
Bộ môn Pháp luật, Học viện CSND

Bài này đã được xem: 7432
Ý KIẾN BẠN ĐỌC VỀ BÀI VIẾT NÀY
Họ và tên : *  
Địa chỉ :  
Email : *  
Nội dung : *

Mã bảo vệ :

 

Bài mới nhất
Tra cứu điểm thi
Chọn kỳ thi : Số báo danh :
Liên kết website
Lượt truy cập
Lượt truy cập: 22701816
Đang truy cập: 212