Án tử hình và các phương thức tử hình trên thế giới
Máy chém mà chính quyền Ngô Đình Diệm đem sử dụng đàn áp cách mạng miền Nam (ảnh tư liệu)
Ngày 1-11-2009 Đại tướng Lê Hồng Anh, Bộ trưởng Bộ Công an đó thay mặt Chính phủ trình bày dự thảo Luật Thi hành án hình sự. Một vấn đề được nhiều người quan tâm là trong thời gian tới ở nước ta, việc thi hành án án hình sự đối với các bị cáo bị kết án tử hình thực hiện theo hình thức nào. Để giúp bạn đọc có nhiều thông tin hơn về vấn đề này, Thiếu tướng, GS.TS Nguyễn Xuân Yêm, Giám đốc Học viện Cảnh sát nhân dân, Bộ Công an đã viết bài “ Án tử hình và các phương thức tử hình trên thế giới”. Website Học viện CSND xin giới thiệu cùng bạn đọc.

1-Tử hình- hình phạt chết

Chữ “tử hình” bắt nguồn từ gốc Hán Việt, có nghĩa là hình phạt chết.Tử hình là việc hành quyết một người theo một quy trình luật pháp như một sự trừng phạt cho một hành động tội phạm. Nó được xem là giải pháp ngăn cản tội ác hữu hiệu nhất.

Tử hình hầu như đã được thực hiện ở mọi xã hội, và có thể được coi là một vấn đề toàn cầu hay gần như vậy, ngoại trừ những xã hội có tôn giáo quốc gia cấm hình phạt đó.

Đi ngược lại lịch sử loài người, chúng ta thấy hình phạt tử hình xuất hiện rất sớm ở các quốc gia cổ đại phương Đông.

Thời kỳ này, ở Phương Đông đã xuất hiện hình thức nhà nước chiếm hữu nô lệ sơ khai đầu tiên. Do được hình thành trên cơ sở điều kiện tự nhiên phong phú, đa dạng nhưng vô cùng khắc nghiệt và được xây dựng trên nền tảng chế độ thủ lĩnh độc đoán, gia trưởng với tín ngưỡng truyền thống và tôn giáo đa thần, coi người đứng đầu nhà nước là thánh nhân - con của các vị thần - có quyền uy và phép lạ, nhà nước và pháp luật ở các nước Phương Đông thời kỳ này thể hiện bản chất độc tài, chuyên chế, các quy phạm hình luật khắc nghiệt và cứng nhắc. Điều đó thể hiện ra qua hai bộ luật của Phương Đông thời kỳ này là Bộ luật Hammurapi và Bộ luật Manu.

Bộ luật Hammurapi là Bộ luật cổ nhất của người Babilon, được tạc vào thời vua Hammurapi (1792-1750 trước Công nguyên) trên một phiến đá bazan cao 2.25 m và đường kính đáy gần 2 m. Bộ luật có 282 điều, trong đó có nhắc tới 30 trường hợp bị xử tử hình đối với phạm nhân. Các điều luật về hình sự thể hiện rõ tính bảo thủ với quan niệm mức hình phạt phải luận tương xứng với mức độ tội ác. Điều 229 Bộ luật quy định: “Nếu người thợ xây, xây nhà cho một người khác mà người thợ xây không chắc chắn để nhà đổ và chủ nhà bị chết, người thợ xây đó bị giết”. Hay Điều 1 và Điều 3 quy định: “kẻ nào buộc tội vô cớ về tội giết người cho người khác thì chính kẻ đó bị giết”; “nếu ai chứa chấp hay giúp đỡ nô lệ chạy trốn thì cũng bị tội chết”. Hình thức thi hành hình phạt tử hình thời kỳ này rất khắc nghiệt như đốt, dìm dưới nước hoặc đóng cọc...

Vào khoảng thế kỷ thứ II đến thế kỷ thứ I trước Công nguyên, ở Ấn Độ cổ đại, các giáo sĩ Bàlamôn đã soạn ra các luật Manu. Về hình luật, trong các luật Manu thể hiện rõ tính giai cấp và sự khắc nghiệt. Các đẳng cấp dưới như Vaisia và Sudra không được hưởng sự khoan dung, mọi vi phạm do họ gây ra đều phải chịu hình phạt rất nặng như bị cắt lưỡi, bị đổ dầu đun sôi vào miệng. Trong khi đó, đẳng cấp Bàlamôn và Kxatơria nếu vi phạm như kẻ dưới thì chỉ bị phạt tiền. Luật Manu trừng phạt rất nặng hành vi xâm phạm sở hữu: trộm cắp đến lần thứ 3 thì bị tử hình, nếu trộm cắp vào ban đêm thì bị đóng cọc, trộm cắp tài sản của nhà vua hay nhà chùa thì bị giết ngay lập tức. Tội cướp, hiếp dâm, giết người được coi như tội phạm đặc biệt và bị trừng phạt nặng.

Kẻ nào vô ý làm chết người thì bị xử tử bằng cách thông thường. Hình luật thời kỳ này mang nặng tính trấn áp, bảo thủ, khắc nghiệt.
Ở các quốc gia cổ đại phương Tây, Bộ luật nổi tiếng và điển hình cho pháp luật phương Tây thời cổ đại là luật La Mã. Trong Luật các chế định liên quan đến hình sự chủ yếu bảo vệ quyền sở hữu của giai cấp quý tộc: nếu đánh gãy tay người khác thì thủ phạm cũng bị đánh gãy tay... Kẻ nào xâm phạm tài sản của người khác như đốt nhà, trộm cắp, phá hoại hoa màu thì sẽ bị xử tử. Nếu kẻ nào đương đêm ăn trộm mà bị giết ngay tại chỗ thì hành vi giết người ấy được coi là hợp pháp. Điều kiện để đảm bảo hợp đồng vay nợ là thịt, da và máu của con nợ. Nếu con nợ không trả nợ đúng hạn thì Tòa án cho phép chủ nợ có quyền tạm giữ con nợ. Nếu quá 60 ngày mà không trả được nợ thì chủ nợ có thể xẻo thịt thân thể con nợ, chủ nợ không phải chịu trách nhiệm về việc con nợ bị xẻo thịt nhiều hay ít. Sau đó nếu con nợ vẫn không trả được nợ thì bị kết án tử hình. Hình phạt tử hình thời kỳ này vẫn mang tính chất cực hình và ô nhục, tùy thuộc vào giai cấp mà hình phạt được áp dụng theo các cách thức khác nhau: nếu quý tộc và binh lính thì bị chém bằng gươm, dân tự do bị chết thiêu hoặc cho ngựa xé, còn nô lệ thì bị giết chết dần rất khủng khiếp như đóng cọc xuyên qua người, dìm chết.

Ở Phương Đông, pháp luật của các triều đại phong kiến Trung Quốc phát triển mạnh và có sự ảnh hưởng mạnh mẽ đến các quốc gia trong khu vực, đó là sự xuất hiện các học thuyết pháp lý như thuyết nhân trị của Khổng Tử, thuyết pháp trị của Quản Trọng, Tử Sản và Hàn Phi Tử. Các triều đại phong kiến Trung Quốc đều quy định hệ thống hình phạt “ngũ hình” bao gồm các hình phạt: xuy, trượng, đồ, lưu, tử. Trong đó hình phạt tử hình có ba bậc: chém hay thắt cổ; chém bêu đầu và lăng trì. Hình phạt chém bêu đầu có nguồn gốc tại Trung Quốc và có lịch sử trên 3.000 năm. Hình phạt lăng trì (tùng xẻo) được thi hành bằng cách xẻo từng miếng thịt phạm nhân theo nhịp trống rồi mổ bụng, moi ruột cho đến chết. Sau đó, thi thể tử tội bị chặt chân tay và bẻ gãy hết xương. Ngoài ra, nhà nước phong kiến Trung Quốc còn áp dụng các hình phạt như tru di tam tộc, tru di cửu tộc.

Ở Phương Tây, thời kỳ này, luật hình sự vẫn cho phép duy trì tục “trả nợ máu”. Theo Bộ luật Xalic: khi phạm tội giết người, nếu người phạm tội là kẻ nghèo hèn đến mức không đủ tiền nộp phạt và không có họ hàng thì “phải lấy đầu mình ra để thay thế”. Còn theo Bộ luật Xắc-xông thì đối tượng của việc trả nợ máu là “kẻ giết người và các con trai của người ấy”. Pháp luật hình sự còn quy định việc bảo vệ nghiêm ngặt chế độ phong kiến. Pháp luật cũng bảo vệ nghiêm ngặt sự thống trị về mặt tư tưởng của Giáo hội hay luật lệ tôn giáo: coi hành vi chống lại nhà thờ, luật lệ tôn giáo, trộm cắp tài sản của nhà thờ là trọng tội, như trường hợp Galileo Galilei đã bị Tòa án giáo hội kết án tử hình bằng cách hỏa thiêu do có quan điểm khoa học chống lại nhà thờ. Thường thì Tòa án áp dụng hình phạt tử hình đối với những người phạm trọng tội bằng cách gây đau đớn kéo dài, mà hình phạt này thì lại không được quy định trong luật.

Năm 1789, sau cuộc cách mạng tư sản Pháp, luật hình sự Pháp quy định án tử hình đối với rất nhiều tội danh (36 trường hợp), trong đó có cả án chính trị, bảo lưu các hình phạt làm nhục dưới dạng đóng dấu, bêu cột, chặt tay...

Ở Anh, năm 1819, Hạ nghị viện Anh đã xác định hình phạt tử hình được quy định đối với 220 loại tội phạm. Hình phạt tử hình không chỉ quy định đối với tội giết người, cướp của mà cả đối với các tội xâm phạm súc vật, đe dọa bằng văn bản, chặt gỗ rừng, thậm chí là ăn cắp vặt vài xu... Việc thi hành án tử hình được thực hiện hết sức man rợ, như cho xe cán, chặt tứ chi và đầu, mổ bụng moi lục phủ ngũ tạng... Cùng với sự tiến bộ xã hội, thế giới đã có những cố gắng đầu tiên trong việc áp dụng hình phạt nhằm cải tạo tù nhân: buộc tù nhân phải cải tạo lao động với một chế độ nhà tù nghiêm khắc có thể đem lại thu nhập, thay vì áp dụng hình phạt tử hình. Sau đó, nhiều nước đã thay thế việc giam giữ bằng việc đày phạm nhân đến các nước thuộc địa nhằm giảm bớt gánh nặng cho các nhà tù và giải quyết một phần nhu cầu về sức lao động nặng nhọc ở các nước thuộc địa, giảm bớt án tử hình..

2- Tử hình có phải là một phương pháp chống tội phạm tối ưu?

Tử hình là một trong những hình phạt có lịch sử lâu đời và nghiêm khắc nhất trong luật hình sự. Trải qua hàng nghìn năm tồn tại, hình phạt tử hình đã thể hiện và phát huy vai trò đặc biệt quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội. Tuy nhiên, khi xã hội ngày càng phát triển, quyền sống của con người đặc biệt được coi trọng, ý thức pháp luật của người dân được nâng cao, xã hội thiết lập được cơ chế kiểm soát hiệu quả hành vi của con người... thì việc duy trì hay bãi bỏ hình phạt tử hình đang là vấn đề được quan tâm ở nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam.

Trên cơ sở điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, tình hình tội phạm ở Việt Nam trong những năm qua và dự báo trong thời gian tới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành Nghị quyết 49/NQ-TW về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, trong đó nêu rõ định hướng chính sách hình sự của chúng ta: duy trì hình phạt tử hình nhưng “hạn chế áp dụng hình phạt tử hình theo hướng chỉ áp dụng đối với một số ít loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”. Đây là một chủ trương đúng đắn, phù hợp với điều kiện của nước ta và xu hướng giảm dần, tiến tới xóa bỏ hình phạt tử hình trên thế giới. Nghiên cứu hình phạt tử hình trong luật hình sự thế giới qua các thời kỳ lịch sử giúp chúng ta hiểu hơn về tình hình quy định và áp dụng hình phạt tử hình của các quốc gia khác trên thế giới trong quá khứ và hiện tại. Từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong quá trình giảm dần tiến tới xóa bỏ hình phạt tử hình. Theo báo cáo của Tổ chức Ân xá quốc tế (Amnesty International), tính đến hết năm 2008 trên thế giới có 139 quốc gia đã xóa bỏ án tử hình trên mặt luật pháp hoặc thực tế. Trong số này có 94 quốc gia và vùng lãnh thổ đã xóa bỏ án tử hình cho tất cả các loại tội phạm. 10 quốc gia đã xóa bảo án tử hình cho tất cả các loại tội phạm ngoại trừ các tội phạm đặc biệt như tội phạm chiến tranh. 35 quốc gia được xem như là đã xóa bỏ trên thực tế. Những quốc gia này giữ lại án tử hình trên luật pháp, tuy nhiên đã không áp dụng bất kỳ một án tử hình nào trong suốt 10 năm qua.

Nếu tính từ thời điểm quốc gia đầu tiên là Venezuela xóa bỏ hình phạt tử hình vào năm 1863, đến năm 1969 Vatican xóa bỏ hình phạt tử hình, trải qua 106 năm, chỉ có khoảng 21 quốc gia xóa bỏ hình phạt tử hình. Nhưng kể từ đầu những năm 1970 trở lại đây, xu hướng xóa bỏ hình phạt tử hình trong luật hình sự ngày càng gia tăng rõ rệt. Phần lớn các quốc gia xóa bỏ hình phạt tử hình trong những thập niên gần đây thuộc Liên minh Châu Âu, vì theo quy chế của tổ chức này, việc xóa bỏ hình phạt tử hình trong luật hình sự là một trong những tiêu chí quan trọng để xét gia nhập. Vì vậy, sau năm 1990, một loạt các nước Đông Âu trước đây khi gia nhập Liên minh Châu Âu đã xóa bỏ hình phạt tử hình (Croatia, Cộng hòa Czech, Hungary, Cộng hòa Slovakia, Bulgaria, Moldova...). Cũng trên xu thế xóa bỏ hình phạt tử hình trong luật hình sự, hiện nay có 11 quốc gia chỉ xóa bỏ hình phạt tử hình đối với các tội phạm thường (xâm phạm tính mạng, sức khỏe, sở hữu, trật tự, an toàn công cộng...) và vẫn quy định hình phạt tử hình đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia (Cook Islands, Israel, Brazil, Fiji, Peru, El Salvador, Argentina, Bolivia, Latvia, Albania, Chile). Ngoài các quốc gia đã xóa bỏ hình phạt tử hình đối với tất cả các tội phạm và đối với các tội phạm thường, hiện nay trên thế giới có 30 quốc gia tuy vẫn quy định hình phạt tử hình trong luật hình sự, nhưng cách đây từ vài năm đến vài chục năm đã không áp dụng và không thi hành hình phạt tử hình trên thực tế. Trong số các quốc gia này, nước áp dụng hình phạt tử hình gần đây nhất là Bahrain (1996), Kyrgyzstan (1998), Liên bang Nga (1999) và nước áp dụng hình phạt tử hình cách đây lâu nhất là Papua New Guinea (1950), Maldives (1952), Brunei (1957). Theo báo cáo của Tổ chức Ân xá quốc tế riêng trong năm 2008 trên thế giới vẫn có tới hơn 8800 người bị kết án tử hình.

Theo thống kê của Tổ chức Ân xá quốc tế, từ năm 1980 đến năm 2005 thì năm có số quốc gia thi hành án tử hình cao nhất là năm 1985 (với 44 quốc gia) và năm có số quốc gia thi hành án tử hình thấp nhất là năm 2005 (với 22 quốc gia). Trong số các quốc gia có thi hành hình phạt tử hình trên thực tế thì số lượng án tử hình còn chỉ tập trung vào một số quốc gia nhất định: mỗi năm chỉ có từ 1 đến 4 quốc gia có trên 100 tử tội bị hành quyết, nhưng lại chiếm từ 56% đến 94% số người bị tử hình trên toàn thế giới. Các quốc gia tập trung số lượng tử tội bị hành quyết nhiều nhất hiện nay là Trung Quốc, Iran, Saudi Arabia, Mỹ. Ví dụ: năm 2005, toàn thế giới có 2.148 người bị hành quyết ở 22 quốc gia, thì có 1.770 người bị hành quyết ở Trung Quốc, 94 người ở Iran, 86 người ở Ả rập Xêút và 60 người ở Mỹ. Như vậy, trong năm 2005, riêng 4 quốc gia này đã hành quyết 2010 người, chiếm 94% tổng số người bị hành quyết trên toàn thế giới. Số tử tội bị hành quyết mỗi năm còn có sự chênh lệch đáng kể. Từ năm 1980 đến 2005, năm có số người bị hành quyết thấp nhất là 1986 (743 tử tội) và 1987 (769 tử tội); năm có số người bị hành quyết cao nhất là 2004 (3.797 tử tội).

Một số quốc gia đã xóa bỏ hình phạt tử hình trong luật hình sự, sau đó lại khôi phục. Tiêu biểu cho các quốc gia này là Philippines: năm 1987, Philippines là quốc gia đầu tiên ở châu Á xóa bỏ hình phạt tử hình đối với tất cả các tội phạm. Tuy nhiên, do tình hình tội phạm gia tăng nên năm 1993, hình phạt tử hình được khôi phục, nhưng đến tháng 6-2006 Philippines lại chính thức xóa bỏ hình phạt tử hình. Ngoài ra, còn có Indonêxia, Nepal, Gambia, Papua New Guinea... là những quốc gia đó khôi phục hình phạt tử hình sau khi xóa bỏ. Trong những năm gần đây, trước tình hình bất ổn về chính trị, khủng bố gia tăng, sức ép của dư luận xã hội... một số quốc gia đang cân nhắc việc khôi phục hình phạt tử hình (Australia, New Zealand...). Nước Mỹ hiện cũng có 32/51 bang có áp dụng hình phạt tử hình. Ở Nhật Bản, theo Bộ luật Hình sự năm 1880 hình phạt tử hình được áp dụng cho 20 tội phạm. Bộ luật Hình sự Nhật Bản hiện hành còn áp dụng hình phạt tử hình cho 13 tội phạm.

Các nước này đều có chung quan điểm cho rằng những kẻ phạm tội đặc biệt nghiêm trọng cần phải được loại trừ khỏi đời sống xã hội và tử hình được xem như một biện pháp răn đe, phòng ngừa tội phạm quan trọng trong xã hội.

Vì vậy trong giai đoạn hiện nay, áp dụng hình phạt tử hình vẫn đó và đang là một biện pháp phòng chống tội phạm có hiệu quả trên thế giới.

3- Các phương thức tử hình trong lịch sử

Lịch sử loài người đó ghi nhận hàng loạt phương thức tử hình trong quá khứ như xử bắn, đóng đinh đến chết, thiêu đốt, bỏ vào nước đun sôi, ném vào vạc dầu sôi, chặt đầu, chôn sống, làm ngạt thở, ghế điện, ném đá đến chết, phanh thây, đưa vào phòng hơi ngạt, tiêm thuốc độc, treo cổ, thả trôi sông, tùng xẻo, voi giày, ngũ mã phanh thây, xẻ đôi người, lột da, cho hổ, báo ăn thịt,v.v.

Trong văn học Trung Quốc cổ đại thường nhắc tới một biện pháp tử hình khá nhân đạo. Đó là biện pháp chém ngang lưng để tử hình những tên lính trông coi quốc khố đã ăn cắp vàng bằng cách dùng gỗ hương hình nong hậu môn ra để dấu vàng vào đó. Đó là do triều đình Trung Quốc quy định khi quan coi kho vào kho vàng đều phải khỏa thân, không còn chỗ nào dấu vàng khả dĩ khác. Cách xử hình này tương đối nhân đạo nhất, khi nạn nhân sẽ chết trong khoảng 10 phút thôi. Khi bị chém ngang lưng, phạm nhân không chết ngay, mà hai tay còn đủ sức lê phần người trước "bơi bơi" một đoạn như hình con chuồn chuồn, trong khi thân sau vẫn nằm đó, ruột quấn mấy vòng quanh sườn.

Một biện pháp tử hình khác là Đai diêm vương: thi hành với những tên thái giỏm dởm cả gan ăn cắp súng săn của vua. Trong phép tử hình này, nạn nhân bị mấy đao phủ dùng một cái đai da thắt chặt vào đầu, chỉ còn chừa lỗ hở hai mắt ra. Hai đao phủ sẽ lựa thế xiết chặt cái đai dần dần. Phạm nhân sẽ đau đớn vật vã trong vòng 1 tiếng trước khi mắt và óc phọt ra ngoài theo hai lỗ đặt trước của đai diêm vương.

Tùng xẻo (còn gọi là lăng trì hay xử bá đao) là một trong những hình phạt tàn khốc và dã man được dùng rộng rãi ở Trung Quốc thời cổ xưa từ năm 900 cho đến khi chính thức bãi bỏ vào năm 1905. Từ ngữ trong tiếng Hán "lăng trì" có nghĩa lấn lên một cách chậm chạp. Đây cũng là hình thức ghê rợn vào bậc nhất trong các án tử hình, phạm nhân sẽ vô cùng đau đớn vì không được chết nhanh chóng, có trường hợp xẻo tróc nửa phần thịt trên cơ thể mà phạm nhân vẫn còn giãy dụa gào thét. Mức độ tàn bạo của nó thì không có gì có thể sánh nổi; ngoài việc xẻo từng miếng thịt trên người tử tội, đao phủ còn có nhiệm vụ là giữ cho tử tội không được chết một cách nhanh chóng, tức là sau bao nhiêu nhát xẻo thì nạn nhân mới được chết.

Lăng trì đôi khi được dùng như một nhục hình để hành quyết người còn sống, hoặc như một hình thức lăng mạ phạm nhân sau khi bị xử chết. Những kẻ phạm những tội như: phản quốc, nổi loạn chống vua, sát nhân hay giết cha mẹ v.v... đều bị pháp luật thời đó luận án và xử lăng trì. Dựa theo những bức tranh vẽ và sách vở xưa viết lại thì thường phạm nhân sẽ bị trói vào cột, sau đó bị bọn khoái tử thủ (đao phủ) chặt hết tay chân rồi dùng dao bén xẻo từng miếng thịt cho đến chết; cũng có tài liệu viết rằng đôi khi hình thức hành hình kéo dài đến 3 ngày, phạm nhân sẽ bị xẻo những phần nhỏ (như mắt, mũi, tai, lưỡi, ngón tay, ngón chân) trước khi bị cắt những phần lớn như tứ chi, vai, đùi v.v... Thịt bị lóc ra sẽ được trưng bày nơi công cộng với mục đích răn đe dân chúng. Có những nơi nhân đạo hơn, phạm nhân sẽ được sử dụng nha phiến trước khi hành hình để làm nhẹ bớt cơn đau đớn. Người đao phủ càng giỏi thì càng xẻo được nhiều miếng thịt của phạm nhân trước khi phạm nhân chết. Thời nhà Minh có đao phủ xẻo được đến hơn 3000 miếng thì phạm nhân mới chết.

Lăng trì được biết đến từ thời Ngũ đại Thập quốc (năm 907 đến 960) và lan rộng dưới triều đại nhà Tống (960-1279), nó lần đầu xuất hiện trong bộ luật hình đời nhà Liêu, một quốc gia không thuộc Trung Quốc thời đó (907-1125). Án tử hình này còn tiếp tục tồn tại ở thời đại Mãn Thanh cho đến khi được bãi bỏ năm 1905, trước đó bộ luật nhà Thanh do Thẩm Gia Bổn (1840-1913) soạn thảo và đặt ra.

Lăng trì cũng từng áp dụng rộng rãi tại Việt Nam thời xưa dưới chế độ phong kiến, được gọi là tùng xẻo. Tội nhân sẽ bị trói chặt vào cột, khi nghe tiếng hiệu lệnh phát ra đều đặn như tiếng trống, đao phủ sẽ xẻo một miếng thịt trên cơ thể phạm nhân xong lại dừng lại chờ tiếp hiệu lệnh tiếp theo. Phương pháp tử hình này cũng được các vua chúa Việt Nam dưới triều Gia Long, Minh Mạng, Tự Đức thi hành đối với những kẻ phản loạn, các vị thừa sai cũng như những người theo đạo Ki-tô, v.v...

Trong Bộ luật Gia Long thời Nguyễn, với 398 điều luật thì có tới 166 điều về hình luật, và điều 223 viết: Phàm kẻ mưu phản và đại nghịch và những kẻ cùng mưu, không phân biệt thủ phạm hay tũng phạm đều lăng trì xử tử (róc thịt, phanh thây, tùng xẻo).

Trong tiểu thuyết Đàn hương hình bên cạnh hình phạt tàn khốc nhất là dùng thanh kiếm gỗ đàn hương đâm vào hậu môn tội phạm xuyên suốt đến gáy và để nạn nhân sống ngắc ngoải trong nhiều ngày, là hình phạt lăng trì được tác giả mô tả tỉ mỉ với ba cấp độ: cấp 1 xẻo đến 3.357 miếng, cấp 2 xẻo 2.896 miếng, cấp 3 xẻo 1.585 miếng. Cụ thể hơn, tác phẩm cũng cho biết bất kể xẻo bao nhiêu miếng, nhưng miếng cuối cùng phải là vừa xẻo xong, phạm chết liền. Do vậy, phải bắt đầu xẻo từ chỗ nào, miếng trước miếng sau cách nhau bao xa, đều phải thiết kế chính xác căn cứ vào giới tính và thể trạng của phạm. Nếu chưa xẻo đủ số miếng mà phạm đó chết hoặc xẻo đủ số miếng rồi mà phạm vẫn chưa chết, thì phải coi đó là lỗi của đao phủ ... Tiêu chuẩn tối thiểu của lăng trì là các miếng phải sàn sàn như nhau, đưa lên bàn cân không được hơn kém nhiều quá. Điều này đòi hỏi khi thi hành án, đao phủ phải bình tâm tĩnh khí, tâm phải chi li như sợi tóc, phải quyết đoán khi ra tay; vừa như thiếu nữ thêu hoa, vừa như đồ tể giết lừa.

Đàn hương hình: là hình phạt kinh hoàng nhất. Phạm nhân sẽ sống vật vã từ 5 ngày đến 2 tuần tuỳ theo yêu cầu của quan trên. Đao phủ sẽ dùng một thanh gỗ hương hình vót nhọn một đầu, nấu trong dầu mấy ngày để trơn tru bóng loáng và không thấm máu. Phạm nhân được bó chặt trong tấm da, để hở phần hậu môn. Thanh gỗ sẽ được xuyên từ đó lên đến vai một cách khéo léo để không hủy hoại cơ quan nội tạng của phạm nhân. Phạm nhân chịu cơn đau đớn giày vò nhưng không thể chết được do đao phủ luôn đổ sâm vào miệng để duy trì sự sống của y. Hình phạt này được thực hiện cho một người dân dám nổi dậy giết mấy sĩ quan người Đức và phá đường tàu sắt chạy qua huyện Cao Mật.

Dao dọc giấy: Đầu tiên buộc chặt nạn nhân vào ghế, dùng kẹp banh miệng của nạn nhân ra, sau đó lấy con dao dọc giấy, bẻ từng đoạn từng đoạn, đổ vào miệng nạn nhân, tất nhiên là nó còn vướng ở cuống cổ, làm sao đây? Đun một ấm nước sôi đổ vào miệng, máu từ miệng phun ra làm nạn nhân chết.

Tự lột da: Kiểu này ở Trung Á, Timor rất thích sử dụng, kẻ phạm tội bị chôn xuống đất, chỉ hở đầu ra, cạo sạch tóc, lấy bột làm thành một cái vũng trên đầu, rạch da đầu rồi đổ dầu sôi lên đó, ngập hết vũng bột. Dầu sôi sẽ theo vết rách trên da đầu từ từ thấm vào da, gây cho người bị hành hình ngứa ngáy, đau đớn khủng khiếp. Dầu thấm hết lại đổ, cứ thế khoảng 5h đồng hồ thì dầu tràn ngập hết dưới da, người bị hành hinh đau đớn cực độ, nhảy vọt lên khỏi hố, người thì ra nhưng bộ da ở lại, kiểu này sau đó thường đi kèm với việc xát muối rồi phơi nắng, thêm hai ngày nữa mới chết.

Bánh xe Công lý: Kiểu này người Thổ nhĩ kỳ thường dùng, dùng một bánh xe to, buộc nạn nhân lên đó rồi xoáy, kiểu buộc dây sẽ khiến càng xoay, các khớp xương càng lệch khỏi vị trí, kéo hết cỡ thì kẻ khốn khổ kia sẽ bị gãy lần lượt từ xương tay đến xương chân, xương sống, xương sườn, đến khi gãy cổ thì chết.

Nhục hình sám hối: Nạn nhân nổi tiếng nhất là William Wallace, tội nhân bị buộc vào cọc, buộc thừng vào hai chân, sau đó kéo căng ra, dùng dao rạch hai bên đùi, dùng tấm da tẩm muối đặt lên. Mỗi lần kéo căng da thì vết rạch càng rộng, lại đắp thêm da tẩm muối, người bị hành hình sẽ đau đớn cực độ đến khi phải xưng tội. Nếu vẫn chưa nhận tội thì dùng búa vồ đập hết các ống xương, chưa nhận thì dùng dao nhọn biến thành thái giám, còn chưa chịu nhận nữa thì đóng đinh vào gót chân, móc mắt, rút gân,v.v. Cuối cùng là chặt đầu.

Thả vào tổ kiến: Ở New Ghuine có loài kiến đỏ khổng lồ, mỗi con dài 1 cm, các phạm nhân phạm tội giết người, hiếp dâm bị hội đồng kết tội sẽ bị bôi mật ong, trói kiểu bánh tét rồi thả vào tổ kiến. Người chịu đựng dẻo dai nhất 3 ngày sau mới chết.

Cù cho chết: Người da đỏ Trung Mỹ dùng kiểu này trước khi người châu Âu tới, trói nạn nhân vào cọc, buộc chặt hai chân, dùng lông Công cù vào bàn chân cho phạm nhân cười đến tắc thở mà chết.

Một biện pháp tử hình khá phổ biến trước đây là treo cổ phạm nhân.
Loại cổ điển: dùng thũng lọng, dây treo xiết cổ cho chết.

Treo gãy cổ: Thấy kiểu treo cổ kia mất mỹ quan, nạn nhân thường lè lưỡi, tím mặt sau khi chết, người Anh bèn phát minh kiểu mới, nút dây được thắt khéo sao cho vừa với cổ người bị xử tử, nạn nhân bị buộc thêm một bao cát dưới chân, đứng trên một hầm sập, khi hầm sập mở ra, người bị xử tử bị giật mạnh xuống dưới, nút thắt sẽ bẻ gẫy xương cổ nạn nhân, chết ít đau đớn hơn và cũng sạch sẽ hơn.

-Treo đứt đầu: Người Trung Đông du nhập kiểu treo gãy cổ, nhưng thấy không hoành tráng, bèn thay dây thừng băng dây thép bén, nạn nhân bị giật một cái sẽ đứt đầu luôn, vừa gọn nhẹ vừa khủng bố. Cựu tổng thống I rắc Saddam Hutxen bị treo chết kiểu này.

Xử tử tập thể:

Chôn sống: Thí dụ nổi tiếng nhất là Bạch Khởi chôn sống 40 vạn quân Triệu ở Trường Bình, Hạng Vũ chôn sống 20 vạn quân Tần ở Hàm Cốc.

Hơi ngạt: Trong chiến tranh thế giới lần thứ II, phát xít Đức thường áp dụng hình thức dùng hơi ngạt để gây chết người. Người Do Thái, tù binh, kẻ chống đối, du kích, tội phạm hình sự được cho biết là sẽ đi tắm, cởi hết đồ vào một căn phòng lớn, thiết kế kiểu phòng kín. Nhưng thay cho nước tắm là hơi ngạt, chết chồng đống lên nhau.

Cuốc chết người: phương thức giết người này được các ăngka của chế độ Khơme đỏ ở Cămpuchia áp dụng suốt trong một thời gian dài. Ai lười lao động, chống đối hoặc là trí thức bị lôi vào góc nhà, góc ruộng và bị cuốc bổ vào đầu đến chết. Các sỹ quan Khơme đỏ còn chơi trò lấy lá dứa cứa họng, nhét lựu đạn vào chỗ kín của phụ nữ, đóng đinh vào sọ,v.v.

Rỏ nước: đặt tội nhân nằm ngửa, khóa tay chân, khóa đầu, cách mặt khoảng 10 cm để 1cái ống nằm ngang, cho nước chảy vào ống đó, rỏ từng giọt vào giữa trán. Một lát sau tội nhân phát điên, rồi muốn tự sát, rồi cắn lưỡi chảy máu, rồi nhịn thở và chết.

Treo ngược: cách này khá phổ biến thời Edo bên Nhật, nạn nhân bị treo ngược lên cây, phơi nắng, không ăn uống, ai khỏe độ vài ngày sẽ phun máu từ mắt mũi, tai mà chết.

Kéo ngựa: cách này của người Mông Cổ, dùng để trừng phạt những kẻ trộm cắp và phản bội bộ lạc. Nạn nhân bị cột hai tay vào một đoạn dây dài được nối với một con ngựa, một kỵ sỹ sẽ điều khiển ngựa kéo lê nạn nhân trên một đoạn đường toàn đá sỏi cho tới chết.

Mổ bụng, moi tim, chặt đầu: Đây là cách mà người Maya hành hình kẻ thù. Nạn nhân bị đưa lên một bàn đá, có 4 người giữ tay chân, đao phủ dùng một con dao sắc nhọn, rạch ngực nạn nhân, moi quả tim còn đang đập của họ, nạn nhân chưa chết ngay, sau đó đao phủ chặt đầu, đem cắm vào, còn cơ thể thì vứt cho thú hoang ăn thịt.

Thiêu sống: cách này tồn tại vào khoảng giữa thế kỷ 12-17 ở châu Âu, nạn nhân bị buộc vào cọc hình chữ thập, bên dưới chất củi lửa và họ bị thiêu cho đến chết.

Bỏ đói: cách này do một số quản ngục nhà Thanh nghĩ ra, nạn nhân bị nhốt trong một cũi nhỏ bằng chuồng chó. Bị bỏ đói, nhưng không theo cách thường, ngày nào bọn quản ngục cũng đem một bát cơm với thức ăn thơm lừng đặt trước mặt tử tù, nạn nhân có thể thò tay ra khỏi cũi nhưng họ không thể với tới bát cơm đó, nhiều nạn nhân đã chết vì bị điên cuồng do không chịu nổi sự đau đớn về tinh thần nên tự sát.

Một biện pháp tử hình khá phổ biến trong lịch sử cổ đại là Tứ mã phân thây (còn gọi là tứ mã phanh thây). Đây là hình phạt mà tứ chi của phạm nhân bị cột vào bốn sợi dây nối vào bốn con ngựa. Trên ngựa có thể có nài ngựa hoặc không. Khi hành hình, các nài ngựa sẽ thúc ngựa phi ra bốn hướng còn không có nài ngựa thì người ta sẽ hét lớn hoặc đánh ngựa để chúng hoảng sợ bỏ chạy. Từ đó bốn sợi dây sẽ kéo tứ chi phạm nhân đến khi thân thể của phạm nhân bị xé thành năm mảnh gồm đầu, thân và tứ chi. Phạm nhân sẽ bị bỏ mặc cho máu chảy đến chết. Hình phạt này còn có một biến thể khác là ngũ mã phân thây với con ngựa thứ năm cột vào cổ phạm nhân. 5 con ngựa, buộc vào 2 tay, hai chân, và đầu, 5 người cưỡi ngựa sẽ đánh cho ngựa chạy ra 5 hướng. Nạn nhân khá nổi tiếng của cách này là Tô Tần ở Trung Quốc.

Trong lịch sử còn tồn tại biện pháp voi giày. Voi được sử dụng để dẫm lên cơ thể tử tội, dùng vòi cuốn đưa lên cao và quật xuống đất. Người ta có thể điều khiển voi làm cho nạn nhân chết nhanh hoặc chết từ từ để hành hạ. Không chỉ có các nước châu Á, Ấn Độ áp dụng hình phạt này, mà La Mã cũng áp dụng để xử tử đồng loạt một số tù nhân. Trong lịch sử Việt Nam còn ghi lại sự việc nữ tướng Bùi Thị Xuân của vua Quang Trung đã bị Nguyễn Ánh dùng voi giày đến chết.

Dưới các triều đại phong kiến còn áp dụng hình phạt tru di tam tộc. Theo hình phạt này, 3 họ của người phạm tội là họ cha, họ mẹ và họ vợ (hoặc họ chồng) sẽ bị xử tử. Khi một người phạm tội bị kết án tru di tam tộc, những người trong cả 3 họ của người đó từ trẻ đến già đều bị xử tử. Vụ án nổi tiếng nhất trong lịch sử Việt Nam là vụ án Lệ Chi Viên mà Nguyễn Trãi, công thần khai quốc nhà hậu Lê bị kết án giết vua Lê Thái Tông và bị tru di tam tộc.

4-Tử hình theo phương thức nào sẽ văn minh hơn?

Cùng với việc xuất hiện các phát minh mới về khoa học công nghệ, các hình thức tử hình tử tội cũng trở lên phong phú hơn, trong đó cần nhắc tới hình thức dùng máy chém để hành hình tử tội.

Bác sĩ Joseph Guillotine, người pháp đã sáng lập ra cái máy chém. Ngày nay người Pháp nhắc đến cái từ máy chém mang tên ông, máy chém tiếng Pháp gọi là Guillotine.

Ngày 28-11-1789, Bác sĩ Joseph GUILLOTIN trình bày mô hình cỏi mỏy chém với các nghị sĩ trong Quốc hội Pháp. Cựng trình bày với ông, còn có nhà phẫu thuật Antoine LOUIS. Theo sự trình bày và đề nghị lên Quốc hội duyệt xét, cái máy chém là một phương tiện xử hình các tội phạm bị kết án tử hình hữu hiệu nhất, một phương tiện nhanh gọn và ít dã man hơn giúp người bị kết án tử hình tìm được cái chết nhanh nhất và ít đau đớn nhất vì sẽ bị chết tức khắc.

Ban đầu, cái máy chém được gọi là " Louison " hoặc " Louisette ". Nhưng sau đó, các phóng viên nhà báo gọi ví von là Guillotine để nhắc nhở đến người sáng lập ra cái máy chém, và ngay lập tức Quốc Hội đã phê duyệt đặt tên cái máy chém là Guillotine.

Năm 1791, Quốc hội Pháp thông qua một nghị định là mọi tội phạm bị kết án tử hình phải lên máy chém.

Người bị lên máy chém đầu tiên là một tên cướp, chuyên cướp trên các trục lộ giao thông. Ngày đó là ngày 25-4-1792. Tên cướp này tên là Nicolas Jacques PELLETIER, hắn bị xử ngay tại Paris.

Máy chém được ra đời trong không khí sôi sục của cuộc cách mạng 1789. Ngày 21-1-1793, vua Louis 16 bị Tòa án cách mạng kết án tử hình với tội danh: phản quốc. Nhà vua đó bị hành hình bằng cái máy chém trước Công chúng Paris. Hoàng hậu Marie Antoinette bị bắt giam cùng với chồng là vua Louis 16. Ngày 14-10-1793, bà bị Tòa án Cách mạng kết án với tội danh: phản quốc, lãng phí ngân quỹ quốc gia trong các dạ tiệc linh đình, lẵng phí ngân sách trong việc mua phấn son, đồ trang sức. Là người mẹ không tốt và thiếu đạo đức và ngày 16-10-1793 bị tử hình bằng máy chém.

Chỉ tính thời gian từ 1793 đến 1794, toàn nước Pháp đó thiết lập 50 máy chém đặt khắp lãnh thổ Pháp, đồng thời cũng hành hình 20.000 người.

Cái chết của vợ chồng nhà vua vẫn chưa dập tắt được ngọn lửa cách mạng. Sau đó, một số Công thần có Công với cuộc cách mạng nước Pháp cũng nối gót theo nhà vua lên đoạn đầu đài.

Máy chém đã theo chân chế độ thực dân Pháp sang Đông Dương và Việt Nam. Hàng nghìn chiến sỹ cách mạng và người dân vô tội đã bị chết dưới máy chém thực dân, trong đó có nhà cách mạng nổi tiếng Hoàng Văn Thụ, ủy viên Thường vô Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương.

Về sau chính quyền Ngô Đình Diệm đã lê máy chém đi khắp Miền Nam với Luật 19-1959 nổi tiếng dã man để đàn áp phong trào cách mạng Miền Nam.

Một phương thức thức tử hình khá phổ biến ở Hoa Kỳ và nhiều nước là tử hình bằng ghế điện.

Những ai yêu nghệ thuật thứ 7 chắc hẳn không bao giờ quên được cảnh hành hình ghờ rợn bằng ghế điện trong bộ phim The Green Mile (Quản giáo và người tử tù). Những hình ảnh đó gây ấn tượng mạnh với người xem, như là một hình thức xử tử khủng khiếp. Tuy nhiên, theo các nhà làm luật, đây là một phương pháp tử hình nhanh và có thể xem như có nhân tính nhất vào thời điểm đầu thế kỷ 20. Vụ tử hình đầu tiên bằng ghế điện được tiến hành tại nhà tù Auburn - New York, Mỹ vào ngày 6-8-1890.

Ở Hoa Kỳ, trước đây việc tiến hành các vụ tử hình bằng phương pháp treo cổ được thực hiện rất phổ biến. Có quá nhiều tử tội rơi vào tình trạng đau đớn kéo dài vì bị bóp nghẹt cổ cho đến chết và đôi khi, nếu độ rơi quá dài, họ sẽ bị đứt cả đầu. Những người thi hành luật ở Mỹ luôn tìm kiếm các phương thức xử tử "tiên tiến" và rồi họ phát minh ra cách thi hành án tử bằng phòng hơi ngạt và tiêm thuốc độc. Sau vụ treo cổ tàn nhẫn một phụ nữ ở New York, thống đốc bang David B.Hill đã ra lệnh nghiên cứu một phương pháp tử hình khả dĩ chấp nhận được. Ông thiết lập một ủy ban lập pháp vào năm 1886 để xem xét những phương thức khác và ngay thời điểm đó, điện có vẻ hiển nhiên là một sự chọn lựa thích hợp để tiến hành một kiểu tử hình mới, khoa học hơn. Từ đó, chiếc ghế điện đầu tiên đã ra đời khoảng năm 1888-1889.

William Kemmler là người đầu tiên bị tử hình bằng ghế điện. Tử tội này bị kết tội chết do hạ sát người vợ của mình bằng rìu vì lòng ghen tuông. Việc kết án Kemmler diễn ra rất nhanh chóng và vụ xử tử đã diễn ra vào 6 giờ sáng ngày 6-8-1890. 25 người chứng kiến cuộc hành hình hôm đó, trong đó 14 người là bác sĩ. Kemmler đó bị đưa vào phòng xử tử tại tầng hầm của Nhà tù Auburn (New York) và bị cột chặt vào ghế điện. Trên đầu của tử tội có đặt một miếng bọt biển thấm nước muối để tăng cường khả năng dẫn điện và dòng điện có thể chạy dọc vào thân của anh ta nhanh hơn. Một điện cực được kẹp vào đầu và một ở cột sống. Những người chịu trách nhiệm hành hình đó gạt Công tắc điện và dòng điện chạy qua người tử tội 17 giây. Sau đó, Kemmler được chứng nhận đã chết. Tuy nhiên, chỉ 30 giây sau, tất cả kinh hoàng khi thấy các dấu hiệu chứng tỏ anh ta vẫn còn sống. Dòng điện ngay lập tức được truyền vào lần 2 và kéo dài hơn 1 phút (chính xác là 70 giây) cho đến khi khói bốc lên từ điện cực ở cột sống cùng với mùi thịt bị cháy khét. Lúc đó, dòng điện mới được ngắt và Kemmler thực sự chết hẳn.

Rút kinh nghiệm từ vụ tử hình trên, trong những lần sau đó, người ta sử dụng máy phát điện tốt hơn, có thể cung cấp dòng điện cao thế và ổn định, những sợi dây dẫn điện cũng lớn hơn. Các điện cực thứ 2 được đặt ở bắp chân thay vì ở cột sống như trường hợp đầu tiên. Có ít nhất hai lần phát điện trong vòng vài phút tùy trường hợp mỗi người. Do đó, các cuộc thi hành án sau diễn ra trôi chảy và thuận lợi, mở đường cho việc chấp nhận một cách rộng rãi việc sử dụng ghế điện như phương thức tử hình mới tại Mỹ.

Sau khi bang Texas áp dụng phương thức tử hình mới là tiêm thuốc độc vào năm 1982, việc xử tử bằng ghế điện giảm nhanh chóng. Vào thời điểm năm 2003, tại Mỹ chỉ còn bang Alabama, Nebreska, Virginia duy trì chiếc ghế điện và chỉ dùng trong trường hợp người tù chọn cách tử hình này. Trong thực tế, những nạn nhân không chết ngay lập tức mà phải tiếp tục bị giật điện lần nữa, dẫn đến việc kêu gọi hủy bỏ sử dụng ghế điện vì tính tàn bạo của nó.
Một phương thức tử hình khá phổ biến ở nhiều nước và Việt Nam là xử bắn tử tội.
-Kiểu cổ điển: Một tiểu đội gồm 10 người được bắt thăm, mỗi người được phát một cây súng trường, trong đó có một cây lắp đạn giả, khi có hiệu lệnh thì bắn. Sau đó sĩ quan chỉ huy sẽ kiểm tra và cho 1 phát ân huệ.

Với cách tử hình này những cán bộ thi hành án chọn súng ngẫu nhiên và đỡ căng thẳng về tâm lý hơn khi nghĩ mình sẽ là người bắn cây súng có lắp đạn giả và không bị mang tiếng là giết người

-Một chọi một: Phạm nhân bị trói quỳ dưới đất, người thi hành án đứng đằng sau, dí súng vào đầu, khi có lệnh bắn luôn, thường thì dùng AK, nhưng đôi khi thuận tiện thì người ta dùng súng ngắn. Kiểu này đến nay vẫn áp dụng ở một số nơi.

-Bắn bằng đại liên: Phạm nhân bị trói trước mũi súng, cò súng được buộc dây, khi có lệnh thì người xử quyết ngồi trong nhà kéo dây, súng bắn hết đạn mới ngừng.

Trên thế giới hiện nay rất phổ biến dùng phương pháp tử hình bằng tiêm thuốc độc
ở Hoa Kỳ, có 37 tiểu bang đang sử dụng án tử hình bằng cách tiêm thuốc độc, để thay thế cho các phương pháp đã lỗi thời là ghế điện, phòng hơi ngạt hay các phương pháp khác.

Nhưng cũng có 11 tiểu bang ở Hoa Kỳ đã cho ngừng cách xử tử mới, sau khi những người chống đối cho là phương pháp này tàn ác và không thật sự hiệu quả. Trong năm ngoái, khi một thẩm phán liên bang ra lệnh cho các bác sĩ tham gia vụ hành hình tử tội Michael Morales vì can tội hãm hiếp và giết chết 1 bé gái thì các bác sĩ từ chối.

Trong năm 2008, đó có ít nhất 2148 tử tội bị tiêm thuốc độc trong 22 quốc gia trên thế giới, nhất là ở Trung Quốc. Trong số 53 người bị xử tử ở Mỹ trong năm 2007, chỉ có 1 trường hợp duy nhất là không tiêm thuốc độc mà thôi.
Một lý do khiến vấn đề tử tội bị tiêm thuốc độc được đưa ra hâm nóng lại trong năm 2007 có nhiều tử tù vẫn còn tỉnh và chịu nhiều đau đớn khi thuốc độc đã được tiêm vào cơ thể.

Đa số các tiểu bang Hoa Kỳ sử dụng 3 loại thuốc, một để gây mê, một để làm bắp thịt và thần kinh ngưng hoạt động và một để làm cho tim ngừng đập. Thường các tử tội chết trong từ 10 đến 14 phút.

Theo Tổ chức Ân xá thế giới thì các phương thức thi hành hình phạt tử hình cũng rất khác nhau ở các nước. Phổ biến nhất ở các nước là treo cổ và xử bắn. Điều 11 Bộ luật Hình sự Nhật Bản quy định tử hình được thực hiện ở trong tù bằng treo cổ. Ở một số nước châu Âu tử hình được thực hiện bằng chém. Bị án được đưa lên máy chém để thực hiện hình phạt. Nghiên cứu các hình thức thi hành án tử hình ở các bang nước Mỹ cho thấy các hình thức thi hành án tử hình rất đa dạng: có 27 bang dùng hình thức tiêm chất độc gây chết người ; 12 bang dùng hình thức ghế điện gây chết người; 7 bang dùng hình thức cho hít khí độc chết người; 4 bang dùng hình thức treo cổ và 1 bang là Utah dùng hình thức xử bắn. Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành ở Trung Quốc quy định áp dụng hai hình thức thi hành án tử hình là xử bắntiêm thuốc độc.

Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật phát triển đó thâm nhập mạnh mẽ vào lĩnh vực thi hành hình phạt tử hình để người phạm tội khi chết đỡ bị đau đớn, còn nguyên vẹn thể xác và ít gây tâm lý sợ hãi, lo lắng đối với những người thi hành hình phạt tử hình. Phương thức xử bắn người phạm tội hiện có 25 nước và vùng lãnh thổ áp dụng và được áp dụng đối với những kẻ phạm tội đặc biệt nguy hiểm.

5-Từ thực tế Việt Nam: tử hình bằng xử bắn hay bằng phương thức mới?

Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, Nhà nước Việt Nam luôn xác định các quyền con người phải được bảo vệ bằng chế độ pháp luật. Để bảo vệ quyền con người, Nhà nước Việt Nam đã áp dụng nhiều loại hình phạt để trừng trị tội phạm trong Bộ luật hình sự của mình.

Ở Việt Nam, biện pháp trừng trị đã được quy định trong hệ thống hình phạt, trong đó biện pháp nghiêm khắc nhất là tước bỏ tính mạng (tử hình) người phạm tội, nhưng còn do tình hình kinh tế - xã hội của đất nước nên Bộ luật Hình sự năm 1999 chỉ còn quy định 27 tội có hình phạt tử hình, so với 40 tội có hình phạt này của Bộ luật Hình sự năm 1985 thì đã bỏ được 13 tội. Chắc chắn đến một ngày nào đó, tình hình kinh tế - xã hội của Việt Nam sẽ cho phép bỏ hẳn hình phạt tử hình trong luật hình sự. Hình phạt tử hình cũng còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa tội phạm.

Trung bình một năm ở Việt Nam xảy ra từ 70.000- 80.000 vụ tội phạm. So với các nước trên thế giới tỷ lệ tội phạm trên số dân là rất thấp. So với các nước như Mỹ, Trung Quốc,v.v. tỷ lệ án tử hình ở Việt Nam rất thấp, chỉ chiếm 0,0001 % số tội phạm bị kết án hằng năm. Theo thống kê trong hơn 15 năm gần đây đã tổ chức thi hành án tử hình cho hơn 800 bị án. Trung hình 1 năm có từ 40-50 người phạm tội bị Toà án tuyên phạt hình phạt tử hình, chủ yếu phạm các tội giết người, tội phạm ma tuý, phạm tội có tổ chức, một số ít phạm các tội tham nhũng. Số bị án bị thi hành hình phạt tử hình khoảng 20-30 người trong một năm. Trong 10 năm qua ở Việt Nam số tội phạm về ma tuý bị kết án tử hình là 92, số bị án bị thi hành hình phạt tử hình là 72. Trung bình một năm ở Việt Nam thi hành hình phạt tử hình cho khoảng 10 tội phạm ma tuý.

Nghiên cứu so sánh trong thời gian 10 năm qua ở Mỹ, các bang đã thi hành án tử hình cho gần 4000 bị án, khoảng 300 án tử hình một năm, trong đó có những bang có số bị án bị thi hành án tử hình rất cao, như Texas 394 bị án, California 381 bị án, Florida 342 bị án.

Vào năm 2008 trên thế giới có 8800 người bị kết án tử hình ở 63 quốc gia và 1146 án tử hình được thực thi ở 28 quốc gia. Năm 2002 tại Trung Quốc có 1060 án tử hình được thực thi. Năm 2003 tại Trung Quốc có 726 người bị thi hành án tử hình, tại Mỹ có 65 người bị thi hành án tử hình. Con số này tại Iran năm 2003 là 108, tại A rập Xê út là 50.

Số án tử hình được thi hành tập trung chủ yếu ở thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hà Nội, Nghệ An, Hải Phòng, Thanh Hóa, Quảng Ninh. Vụ án Vũ Xuân Trường được tổ chức thi hành án ở Hà Nội có đối tượng bị án tử hình đông nhất gồm 7 bị án trong đó có 6 nam, 1 nữ.

Pháp luật tố tụng hình sự hiện hành ở Việt Nam quy định xử bắn là phương thức thi hành hình phạt tử hình cho các bị án bị tuyên án tử hình. Phương thức này là tiến bộ và mang tính nhân bản hơn nhiều so với các phương thức ném đá đến chết, '' long đầu trảm'', '' cẩu đầu trảm'', voi giày, ngựa xé xác, thả vào vạc dầu sôi, dùng máy chém, treo cổ, v.v. đã tồn tại trong lịch sử loài người và một số phương thức hiện vẫn tiến hành ở các nước.

Theo quy định của pháp luật hiện hành Bộ Công an được giao chủ trì tổ chức thi hành hình phạt tử hình. Khi nhận được lệnh thi hành một án tử hình, lãnh đạo Công an tỉnh, thành phố phải thành lập Hội đồng thi hành án tử hình, lập kế hoạch và định ngày, giờ, địa điểm, pháp trường, bố trí lực lượng vũ trang, thống nhất với lãnh đạo Viện kiểm sát và Toà án. Pháp trường có thể bố trí ở gần trại giam, hoặc ở nơi xảy ra vụ án, nhưng phải đảm bảo tuyệt đối an toàn cho nhân dân. Ngày giờ thi hành án nếu không phải trường hợp cấp bách thì không tổ chức vào những ngày kỷ niệm, ngày Tết và các ngày lễ chính của các tôn giáo, dân tộc. Ngoài đại diện cơ quan Công an, Kiểm sát, Tũa ỏn trong thành phần Hội đồng thi hành án tử hỡnh cũn cú bác sỹ giám định pháp y, đại diện của trại giam.

Người chứng kiến việc thi hành án là một đại diện của ủy ban nhân dân cơ sở nơi bố trí pháp trường. Người này có nhiệm vụ lập giấy báo khai tử cho kẻ bị kết tội tử hình, sau khi thi hành án.

Trước khi đưa phạm nhân ra pháp trường, cán bộ căn cước của Công an tỉnh, thành phố phải đến trại giam, lấy phạm nhân ra lập danh chỉ bản mới, đem đối chiếu với danh chỉ bản cũ và các tài liệu khác thật đầy đủ, chính xác và xác định phạm nhân ấy đúng là phạm nhân đã bị kết án tử hình và đúng là kẻ sắp bị thi hành án trong kế hoạch đã định. Sau đó phải khoá tay và đưa phạm nhân ấy đến buồng làm việc của giám thị để đại diện của Tũa ỏn nhõn dõn tiến hành tống đạt cho phạm nhân biết về quyết định án tử hình hoặc quyết định của cấp có thẩm quyền, bác đơn xin ân giảm của phạm nhân, đồng thời làm những thủ tục trong phạm vi chức năng của Tũa ỏn nhõn dõn.

Tiếp đó phạm nhân được dẫn giải đến pháp trường. Sau khi trói tay phạm nhân vào cột đã trồng sẵn, đại diện Tũa ỏn nhõn dõn công bố tóm tắt tội trạng của phạm nhân và đọc phần kết luận trong bản quyết định duyệt án tử hình hoặc quyết định bác đơn xin ân giảm của phạm nhân. Phạm nhân được bịt mắt bằng một băng vải đen. Khi Hội đồng thi hành án ra lệnh thì cán bộ chỉ huy lực lượng vũ trang thi hành án hô đội viên gồm 5 đội viên bắn giỏi được lựa chọn bắn một loạt súng trường, nhằm thẳng vào tim phạm nhân. Để kết thúc việc thi hành án tử hình, cán bộ chỉ huy bắn thêm một phát súng ngắn vào thái dương của phạm nhân. Sau đó bác sĩ pháp y khám nghiệm, xác định là phạm nhân đã chết hẳn hay chưa.

Tại vị trí bắn, đội trưởng chỉ huy lực lượng đứng một hàng ngang, cách bị án từ 5-10 mét . Mặt đội viên đối diện với bị án. Vị trí đội trưởng đứng bên phải hoặc bên trái hàng quân và cách hàng quân từ 3-5 mét. Sau khi các đội viên bắn xong đội trưởng cho đội viên xuống súng.Từ vị trí chỉ huy, đội trưởng tiến đến chỗ bị án rút súng từ bao súng bắn vào thái dương bị án, đạn xuyên chếch từ thái dương ra sau gáy của bị án .

Trước năm 1974 Bộ Công an giao cho Bộ Tư lệnh Cụng an nhõn dõn vũ trang tổ chức thi hành án tử hình. Từ năm 1974 đến nay Bộ Công an giao cho Cục Cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp thuộc Tổng cục Cảnh sát tổ chức thi hành án tử hình.

Đội vũ trang thi hành án tử hình có quân số từ 7-8 cán bộ/ 01 bị án. Bộ Công an quy định tiêu chuẩn lựa chọn đội trưởng, đội viên đội vũ trang thi hành án lựa chọn luân phiên trong đơn vị: bao gồm những cán bộ có lập trường tư tưởng vững vàng, ý thức kỷ luật nghiêm, sử dụng thành thạo vũ khí. Không chọn những cán bộ có quan hệ gia đình, thân quen gần gũi với bị án. Những cán bộ có hoàn cảnh gia đình đặc biệt như: Gia đình mới có tang, bản thân mới cưới vợ,v.v. căn cứ vào tình hình cụ thể của đơn vị, việc lựa chọn do thủ trưởng đơn vị quyết định.

Thực tế trong hàng chục năm qua cho thấy việc thi hành hình phạt tử hình bằng xử bắn có tác dụng răn đe tội phạm, tuyên truyền phòng ngừa tội phạm cao. Tuy nhiên biện pháp này làm cho thi thể bị cáo không nguyên vẹn và có ảnh hưởng nhiều tới tâm lý, tư tưởng cán bộ chiến sĩ thi hành án. Số cán bộ công an đã tham gia xử bắn nhiều hoặc xử bắn các bị cáo nữ, hoặc trực tiếp được giao trói, bịt mắt, nhét rẻ vào mồm bị cáo, hoặc được giao bắn viên đạn cuối cùng vào thái dương phạm nhân, đều bị ảnh hưởng tâm lý thần kinh nhiều. Qua điều tra cán bộ chiến sĩ đội vũ trang thi hành án tử hình ở 20 tỉnh, thành phố thì 100% cán bộ chiến sĩ đều bị ảnh hưởng tâm lý các mức độ. Chỉ có 20-30% cán bộ trẻ xung phong vào các đội công tác này. Có cán bộ công an sau khi đã thi hành 20 án tử hình ở Hà Tĩnh đó bị mắc bệnh tâm thần. Có cán bộ công an ở Hà Nam viết đơn xin chuyển ngành không ở Công an và đội thi hành án tử hình nữa.

Trong quá trình thi hành hình phạt tử hình đã xuất hiện nhiều vướng mắc như kiểm tra căn cước, xác định vân tay của tử tù, hoãn thi hành án, gia đình xin nhận xác bị án về mai táng. Đã có nhiều vụ án phải hoãn thi hành án, điển hình là các tử tù Siêng Phênh và Nguyễn Khánh Lộc đã đề nghị hoãn thi hành án để khai ra một số kẻ đồng phạm đang còn giấu mặt ngoài xã hội. Bên cạnh đó đã có hơn 50 trường hợp gia đình xin nhận xác người thân về mai táng sau khi hình phạt tử hình đã được thi hành. Vì vậy cần phải có những quy định rõ về các trường hợp trên để tiện xử lý trong thực tiễn.

Trong thời gian qua các địa phương rất khó tìm địa điểm làm pháp trường, nhất là các tỉnh đồng bằng. Vì vậy có tỉnh như Nghệ An phải đi xa 140 km mới có địa điểm thi hành án tử hình. Về chế độ chính sách và tổ chức đội vũ trang thi hành án tử hình, tuy không thành lập các đơn vị chuyên trách thi hành án tử hình nhưng số cán bộ chiến sĩ này cần được đào tạo, huấn luyện chặt chẽ, có chế độ bồi dưỡng cao so với các lực lượng khác.

Từ thực tiễn thi hành hình phạt tử hình ở nước ta cho thấy cần thiết phải đổi mới phương thức thi hành hình phạt tử hình. Cũng qua thực tiễn của thế giới cho thấy mỗi phương thức tử hình đều có những ưu, nhược điểm của mình.

Đối với hình thức bằng ghế điện, hình thức tử hình này rất tàn nhẫn. Do sức khỏe của các phạm nhân khác nhau nên có người ngồi ghế điện một số lần mới chết. Vì vậy khiến họ bị đau đớn kéo dài.

Hình thức tử hình bằng hơi ngạt cũng có nhiều nhược điểm. Việc xây dựng một phòng hơi ngạt khá tốn kém, thường trị giá vài trăm nghìn USD. Nếu bị rò rỉ khí độc ra bên ngoài sẽ rất nguy hiểm. Với khả năng kinh tế của nước ta hiện nay và trong tương lai gần, phương án này là không phù hợp với thực tiễn.

Chính vì vậy chỉ còn hai phương thức tử hình là xử bắntiêm thuốc độc là khả thi hơn. Tác giả bài viết cho rằng đối với nước ta hiện nay nên áp dụng cả hai phương thức tử hình này và tùy điều kiện cụ thể Hội đồng thi hành án sẽ quyết định áp dụng phương thức nào. Đối với các tội phạm đặc biệt nguy hiểm, cần răn đe, phòng ngừa cho quảng đại quần chúng, rất cần thiết áp dụng biện pháp xử bắn mà chúng ta đã áp dụng thành công từ 1945 đến nay.Trung Quốc và nhiều nước trên thế giới vẫn sử dụng biện pháp này.Tuy nhiên trong các trường hợp này, Nhà nước cần chỉ đạo các địa phương xây dựng những pháp trường cố định để thi hành án tử hình. Pháp trường cần được xây dựng ở các nơi dễ đi lại, có điều kiện cho nhân dân xem, có tường chắn đạn, gần nơi chôn cất bị án.

Còn trong các trường hợp thi hành án tử hình bình thường sẽ áp dụng biện pháp tiêm thuốc độc. Để đỡ gây căng thẳng tâm lý cho người thi hành hình phạt, sẽ có mũi tiêm không có thuốc độc. Cán bộ thi hành án vẫn còn hy vọng là kẻ tử tội chết không phải do mình gây ra và vì vậy đỡ gánh nặng tâm lý hơn.

GS.TS Nguyễn Xuân Yêm

Bài này đã được xem: 55258
Ý KIẾN BẠN ĐỌC VỀ BÀI VIẾT NÀY
Họ và tên : *  
Địa chỉ :  
Email : *  
Nội dung : *

Mã bảo vệ :

 

PHOTO GALLERY
Tra cứu điểm thi
Chọn kỳ thi : Số báo danh :
Liên kết website
Lượt truy cập
Lượt truy cập: 21817215
Đang truy cập: 280